Quay lại

USTR đề xuất Mỹ áp thuế quan 10-12,5% lên 60 nền kinh tế, tác động tới doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam thế nào?

vneconomy · 13:32:00 4/6/2026 · Thu Minh nguồn

uncertaintrade_tariffs

USTR đề xuất thuế 10-12,5% với 60 nền kinh tế, Việt Nam thuộc nhóm 12,5% nhưng tác động dự kiến hạn chế

Thay đổi chính

  • USTR đề xuất áp thuế 10-12,5% lên 60 quốc gia và vùng lãnh thổ.
  • Việt Nam và Trung Quốc thuộc nhóm 45 nước dự kiến chịu mức thuế 12,5%.
  • Một số hàng điện tử, bán dẫn, công nghệ cao và năng lượng được nêu khả năng miễn thuế.
  • Dệt may có thể hưởng cơ chế hạn ngạch ưu đãi nếu dùng nguyên liệu Mỹ như bông, sợi.

Ngành chịu tác động

  • export manufacturingTrung bìnhViệt Nam thuộc nhóm thuế 12,5%, nhưng nhiều mặt hàng xuất khẩu lớn sang Mỹ có thể được loại trừ.
  • textilesTrung bìnhNgành dệt may chịu rủi ro thuế, song có cơ hội hạn ngạch ưu đãi nhờ nhập khẩu bông Mỹ lớn.
  • electronicsThấpNhiều mã HS điện tử và công nghệ cao xuất khẩu lớn được nêu nằm ngoài danh sách đánh thuế.

Tổng kết: Đề xuất thuế của USTR làm tăng bất định chính sách thương mại với doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam, nhưng tác động trực tiếp có thể không lớn nếu các ngoại lệ được giữ nguyên. Thị trường sẽ theo dõi phiên điều trần và thiết kế cơ chế ưu đãi cho dệt may trước khi đánh giá lại rủi ro lợi nhuận và FDI.

Tóm tắt sinh bởi AI từ vneconomy. Có thể không chính xác — kiểm tra số liệu trong bài gốc.

Toàn văn từ nguồn

Như VnEconomy đưa tin, Văn phòng Đại diện Thương mại Mỹ (USTR) vừa khuyến nghị Chính phủ Mỹ áp thuế quan mới với thuế suất dao động từ 10% đến 12,5% đối với 60 quốc gia và vùng lãnh thổ. Tuy nhiên sẽ cần thêm một phiên điều trần 07/07/2026 để có quyết định áp dụng chính thức

USTR công bố mức 10% được đề xuất cho nhóm nền kinh tế gồm Canada, EU, Mexico, Pakistan, Argentina, Bangladesh, Cambodia, Malaysia, Taiwan, UK… Còn 12,5% áp cho 45 nước còn lại trong danh sách điều tra bao gồm Việt Nam, Trung Quốc.

Một số mặt hàng sẽ có cơ chế thuế riêng như: hàng dệt may, cho phép một lượng nhất định hàng may mặc/dệt may được nhập vào Mỹ với mức thuế thấp hơn, theo cơ chế riêng (liên quan đến tỷ lệ nhập khẩu nguyên liệu từ Mỹ, như bông, sợi…); miễn thuế cho một số nhóm hàng như Bán dẫn/IC, thiết bị/điện tử công nghệ cao, năng lượng, đất hiếm…

Nhận định về tác động của mức thuế này, Chứng khoán KBSV cho rằng chính sách thuế mới không gây tác động tiêu cực lớn đối với triển vọng xuất khẩu và FDI của Việt Nam.

Nguyên nhân chủ yếu do các mặt hàng có tỷ trọng xuất khẩu lớn của Việt Nam sang Mỹ được loại trừ ra khỏi danh sách đánh thuế bao gồm các mã HS như 8517, 8541, 8471, 8473…, hầu hết là các mặt hàng thiết bị điện/ điện tử công nghệ cao. 

Bên cạnh đó, mức thuế áp dụng cho Việt Nam không chênh lệch đáng kể so với các đối thủ cạnh tranh; Và mức 12,5% thấp hơn tương đối so với mức cũ (19%) của đạo luật IEEPA.

Đối với nhóm dệt may, Việt Nam hiện là nhà nhập khẩu bông Mỹ lớn nhất trong niên vụ 2024/2025, chiếm khoảng 45% – 50% tổng lượng bông nhập khẩu toàn ngành. Nền tảng này mang lại cơ sở lớn để Việt Nam được phân bổ một hạn mức hạn ngạch nhất định được hưởng mức thuế ưu đãi hơn, nếu cơ chế thuế quan này chính thức được thông qua. Trong đó, nhóm doanh nghiệp dệt may có tỷ trọng nhập khẩu bông lớn từ Mỹ như TCM, ADS, Vinatex…

60 quốc gia bị điều tra chiếm tới 99,4% tổng lượng hàng nhập khẩu của Mỹ. Các nước chịu ảnh hưởng lớn nhất nhiều khả năng là Mexico, Canada và Trung Quốc, ba nguồn cung hàng nhập khẩu lớn nhất của Mỹ trong năm ngoái, theo quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF).

Chuyên gia của Bloomberg Economics là Maeva Cousin cho biết nếu được triển khai, các mức thuế mới chỉ làm tăng thuế suất hiệu dụng của Mỹ thêm 0,5 điểm phần trăm so với mức hiện tại là 10,7%.

Kịch bản này được tính toán với giả định các mức thuế theo Điều khoản 122, vốn được áp dụng tạm thời sau phán quyết của Tòa án Tối cao, sẽ hết hiệu lực.

USTR xem xét liệu một quốc gia có lệnh cấm chính thức đối với hàng nhập khẩu được sản xuất bằng lao động cưỡng bức hay không, đồng thời đánh giá mức độ thực thi hoặc các nỗ lực ngăn chặn những mặt hàng này.

USTR lập luận rằng việc một quốc gia không thực thi lệnh cấm lao động cưỡng bức sẽ “gây gánh nặng hoặc hạn chế thương mại Mỹ bằng cách đặt các nhà sản xuất Mỹ vào thế cạnh tranh không công bằng với hàng hóa được sản xuất bằng lao động cưỡng bức tại cả thị trường xuất khẩu và thị trường Mỹ. Điều đó cũng khiến hàng hóa nước ngoài được sản xuất mà không sử dụng lao động cưỡng bức hoặc đầu vào từ lao động cưỡng bức bị đẩy khỏi thị trường nội địa của họ sang Mỹ và các thị trường khác.”