Quay lại

Bộ trưởng Ngô Văn Tuấn: Tập trung tháo gỡ 6 nhóm điểm nghẽn cho doanh nghiệp

stockbiz · 23:00:48 19/7/2026 nguồn

neutralbusiness_environment_reform

Bộ Tài chính xác định 6 nhóm điểm nghẽn cần tháo gỡ để khơi thông nguồn lực cho doanh nghiệp

Thay đổi chính

  • Tập trung hoàn thiện thể chế, giảm chồng chéo pháp luật và cải thiện thực thi ở địa phương.
  • Ưu tiên khơi thông tiếp cận tín dụng, đất đai, vốn trung dài hạn và nghĩa vụ tài chính.
  • Nhấn mạnh giảm chi phí sản xuất, logistics, vốn, tuân thủ xanh và áp lực dòng tiền.
  • Thúc đẩy liên kết giữa doanh nghiệp nhà nước, tư nhân và FDI trong chuỗi giá trị nội địa.

Ngành chịu tác động

  • small and medium enterprisesCaoKhó tiếp cận tín dụng, đất đai và chịu áp lực chi phí, dòng tiền lớn.
  • real estate infrastructureTrung bìnhVướng mắc quỹ đất, giá đất, giải phóng mặt bằng ảnh hưởng tiến độ dự án.
  • manufacturing exportTrung bìnhChịu tác động từ chi phí logistics, tiêu chuẩn ESG, phòng vệ thương mại và chuỗi cung ứng.

Tổng kết: Bài viết mang tính định hướng chính sách, chưa nêu biện pháp pháp lý cụ thể hay thời điểm hiệu lực. Nếu được triển khai đồng bộ, các cải cách có thể cải thiện môi trường kinh doanh và hỗ trợ tăng trưởng trung hạn.

Tóm tắt sinh bởi AI từ stockbiz. Có thể không chính xác — kiểm tra số liệu trong bài gốc.

Toàn văn từ nguồn

Qua tổng hợp ý kiến của cộng đồng doanh nghiệp, hiệp hội doanh nghiệp và kết quả rà soát của các bộ, ngành, Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn cho biết, những khó khăn, vướng mắc hiện nay tập trung ở 6 nhóm vấn đề lớn. Để khơi thông nguồn lực, thúc đẩy tăng trưởng, cần đồng thời hoàn thiện thể chế, cải thiện môi trường đầu tư, khơi thông dòng vốn, tháo gỡ vướng mắc về đất đai, giảm chi phí sản xuất, mở rộng thị trường và tăng cường liên kết giữa các khu vực doanh nghiệp.

[Image: ]

Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn trình bày Báo cáo trung tâm tại Hội nghị Thường trực Chính phủ với cộng đồng doanh nghiệp ngày 18/7.

Thể chế và tổ chức thực hiện vẫn là điểm nghẽn lớn nhất

Trình bày Báo cáo trung tâm tại Hội nghị Thường trực Chính phủ với cộng đồng doanh nghiệp ngày 18/7, Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn cho biết, qua tổng hợp ý kiến của cộng đồng doanh nghiệp, hiệp hội doanh nghiệp và kết quả rà soát của các bộ, ngành, có thể khái quát những khó khăn, vướng mắc hiện nay thành 6 nhóm vấn đề lớn.

Nhóm vấn đề thứ nhất liên quan đến thể chế và tổ chức thực hiện. Theo Bộ trưởng, đây vẫn là điểm nghẽn lớn nhất hiện nay.

Một số quy định pháp luật còn chồng chéo, thiếu đồng bộ; việc ban hành văn bản hướng dẫn ở một số lĩnh vực còn chậm; cách hiểu và tổ chức thực hiện giữa các cơ quan, địa phương chưa thống nhất.

Thủ tục hành chính tuy đã được cải cách nhưng vẫn còn tình trạng phân tán, thiếu liên thông. Chuyển đổi số chưa đồng bộ, doanh nghiệp vẫn phải khai báo nhiều lần, nộp hồ sơ giấy đối với một số thủ tục.

Bên cạnh đó, ở một số nơi vẫn còn tâm lý e ngại trách nhiệm, né tránh, đùn đẩy trong giải quyết công việc, ảnh hưởng đến tiến độ triển khai dự án và hoạt động sản xuất, kinh doanh.

Nhóm vấn đề thứ hai là khả năng tiếp cận các nguồn lực phát triển. Doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa, vẫn gặp nhiều khó khăn trong tiếp cận tín dụng, đất đai và các nguồn lực sản xuất.

Thị trường vốn, quỹ đầu tư, cho thuê tài chính và các kênh huy động vốn trung, dài hạn chưa phát huy đầy đủ vai trò. Những vướng mắc về quỹ đất, xác định giá đất, giải phóng mặt bằng và thực hiện nghĩa vụ tài chính tiếp tục làm tăng chi phí, kéo dài thời gian đầu tư.

Nhóm vấn đề thứ ba liên quan đến chi phí sản xuất, kinh doanh và dòng tiền. Giá nguyên liệu, năng lượng, logistics, vốn và lao động vẫn ở mức cao. Trong khi đó, các yêu cầu mới về tiêu chuẩn xanh, phát triển bền vững, truy xuất nguồn gốc và trách nhiệm xã hội làm gia tăng chi phí tuân thủ.

Việc chậm thanh toán, hoàn thuế, giải ngân hoặc xử lý các thủ tục liên quan cũng tạo thêm áp lực đối với dòng tiền và vốn lưu động của doanh nghiệp.

Nhóm vấn đề thứ tư là thị trường và chuỗi cung ứng. Xu hướng bảo hộ thương mại, các biện pháp phòng vệ thương mại, yêu cầu về ESG, giảm phát thải và cơ chế điều chỉnh carbon đang đặt ra những thách thức ngày càng lớn đối với doanh nghiệp Việt Nam.

Trong khi đó, thị trường trong nước và các chuỗi cung ứng nội địa vẫn chưa phát huy đầy đủ vai trò là bệ đỡ cho doanh nghiệp phát triển.

Nhóm vấn đề thứ năm liên quan đến khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và nguồn nhân lực. Cơ chế khuyến khích nghiên cứu, thử nghiệm và thương mại hóa sản phẩm mới chưa thật sự mạnh; liên kết giữa doanh nghiệp với các viện nghiên cứu, trường đại học còn hạn chế.

Nguồn nhân lực chất lượng cao, nhất là nhân lực số, nhân lực công nghệ và lao động kỹ thuật, vẫn chưa đáp ứng yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới.

Nhóm vấn đề thứ sáu là liên kết giữa các khu vực doanh nghiệp. Mối liên kết giữa doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài còn lỏng lẻo.

Việc chia sẻ thị trường, chuyển giao công nghệ, phát triển nhà cung ứng và hình thành các chuỗi giá trị trong nước còn nhiều hạn chế, làm giảm hiệu quả lan tỏa của các nguồn lực và ảnh hưởng đến năng lực tự chủ của nền kinh tế.

[Image: ]

Quang cảnh Hội nghị.

Theo Bộ trưởng, những khó khăn nêu trên chủ yếu xuất phát từ các điểm nghẽn trong quá trình tổ chức thực hiện. Đây cũng là nội dung cần được tập trung tháo gỡ với tinh thần quyết liệt, thực chất và đồng bộ hơn trong thời gian tới.

Bộ trưởng Ngô Văn Tuấn nhấn mạnh, việc khơi thông và huy động nguồn lực từ các thành phần kinh tế, trong đó trọng tâm là khu vực doanh nghiệp, cần được đặt trong tổng thể yêu cầu thực hiện mục tiêu tăng trưởng cao, nâng cao năng lực nội sinh, sức chống chịu và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế.

Do đó, các nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm trong thời gian tới cần quán triệt đầy đủ tinh thần của Kết luận số 18-KL/TW về phát triển kinh tế - xã hội; Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; Nghị quyết số 79-NQ/TW về phát triển kinh tế nhà nước và Nghị quyết số 10-NQ/TW về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài.

Khơi thông dòng vốn, tháo gỡ vướng mắc đất đai và giảm chi phí cho doanh nghiệp

Từ những vấn đề đặt ra, lãnh đạo Bộ Tài chính đề xuất một số nhóm giải pháp chung cho khu vực doanh nghiệp.

Trước hết, cần tiếp tục hoàn thiện thể chế, cải thiện thực chất môi trường đầu tư, kinh doanh; khẩn trương rà soát, sửa đổi đồng bộ pháp luật về đầu tư, đất đai, quy hoạch, xây dựng, môi trường, phòng cháy, chữa cháy, đấu thầu, doanh nghiệp, thuế, hải quan và quản lý chuyên ngành.

Các văn bản hướng dẫn cần được ban hành kịp thời, có quy định chuyển tiếp rõ ràng. Cùng với đó, cần chuyển mạnh từ tiền kiểm truyền thống sang hậu kiểm dựa trên dữ liệu, trên cơ sở quản lý rủi ro; gắn trách nhiệm người đứng đầu với tiến độ giải quyết, khắc phục tình trạng né tránh, sợ sai và đùn đẩy.

Bộ trưởng cũng đề nghị đẩy nhanh tái thiết kế thủ tục hành chính trên nền tảng số, thay vì chỉ số hóa hồ sơ giấy.

Theo đó, cần thực hiện nguyên tắc doanh nghiệp chỉ cung cấp thông tin một lần; tăng cường kết nối, chia sẻ dữ liệu; công khai đầu mối, tiến độ và tình trạng xử lý hồ sơ; đồng thời tự động cảnh báo đối với những hồ sơ quá hạn.

Để khơi thông dòng vốn và dòng tiền cho doanh nghiệp, cần hoàn thiện hành lang pháp lý cho vay dựa trên dòng tiền, dữ liệu, hợp đồng, đơn hàng, khoản phải thu và các căn cứ liên quan.

Phạm vi tài sản bảo đảm cần được mở rộng đối với động sản, hàng tồn kho, tài sản hình thành trong tương lai, quyền tài sản, sở hữu trí tuệ, phần mềm và dữ liệu.

Cùng với đó, cần phát triển đồng bộ thị trường vốn, trái phiếu doanh nghiệp, quỹ đầu tư, cho thuê tài chính và tài trợ chuỗi cung ứng; thiết lập cơ chế bảo đảm thanh toán đúng hạn đối với hoàn thuế, dự án đầu tư công, mua sắm công và hợp đồng sử dụng ngân sách nhà nước.

Đối với những vướng mắc về đất đai, dự án và phát triển hạ tầng, Bộ trưởng đề nghị hoàn thiện quy trình lựa chọn nhà đầu tư, giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất, xác định giá đất và nghĩa vụ tài chính theo hướng làm rõ thủ tục, phương pháp, thời hạn và trách nhiệm.

Các dự án chậm tiến độ, công trình ách tắc, đất đai bỏ hoang cần được phân loại và xử lý dứt điểm. Dữ liệu quy hoạch, quỹ đất, giá đất và tình trạng pháp lý dự án cần được công khai trên hệ thống thống nhất.

Đồng thời, cần đẩy nhanh phát triển hạ tầng chiến lược về giao thông, logistics, năng lượng, khu công nghiệp và hạ tầng số; bảo đảm cung ứng điện ổn định cho các dự án công nghệ cao, trung tâm dữ liệu và công nghiệp chiến lược.

Để giảm chi phí sản xuất, kinh doanh và chi phí tuân thủ, cần thực hiện thống nhất mã hàng, tiêu chuẩn, quy chuẩn và phương pháp kiểm tra; công nhận kết quả thử nghiệm, chứng nhận còn hiệu lực.

Việc kiểm tra cần được thực hiện trên cơ sở phân loại rủi ro, qua đó miễn, giảm kiểm tra đối với doanh nghiệp tuân thủ tốt.

Trước khi điều chỉnh thuế, phí, tiêu chuẩn và quy chuẩn, cần tham vấn, đánh giá kỹ tác động và có thời gian chuyển tiếp phù hợp.

Bên cạnh đó, cần rà soát giá, phí, phụ phí logistics; kết nối dữ liệu giữa cảng, kho, vận tải, hải quan và cơ quan kiểm tra chuyên ngành nhằm giảm thời gian lưu kho, lưu bãi và thông quan.

Đối với nhiệm vụ mở rộng thị trường, nâng cao năng lực cạnh tranh và đổi mới sáng tạo, cần đổi mới hoạt động xúc tiến thương mại theo từng ngành hàng, thị trường và hiệp định thương mại tự do; hỗ trợ doanh nghiệp đáp ứng tiêu chuẩn xanh, ESG, truy xuất nguồn gốc và các yêu cầu về phòng vệ thương mại.

Thị trường trong nước cần được phát huy như một bệ đỡ thông qua kết nối cung - cầu, phát triển thương hiệu Việt và hệ thống phân phối trong nước.

Cùng với đó, cần hoàn thiện cơ chế thử nghiệm có kiểm soát, hỗ trợ nghiên cứu và phát triển, thương mại hóa; thúc đẩy liên kết giữa viện nghiên cứu, trường đại học, trung tâm đổi mới sáng tạo với doanh nghiệp.

Hoạt động đào tạo, đào tạo lại nhân lực số, nhân lực xanh, nhân lực công nghệ và lao động kỹ thuật cần được thực hiện theo đơn đặt hàng của doanh nghiệp.

Phát huy vai trò từng khu vực, tăng liên kết giữa ba khối doanh nghiệp

Bên cạnh các giải pháp chung, Bộ trưởng Ngô Văn Tuấn cũng đề xuất những nhiệm vụ, giải pháp cụ thể đối với từng khu vực doanh nghiệp.

Đối với doanh nghiệp nhà nước, cần tập trung nguồn lực vào các ngành nền tảng, hạ tầng và công nghiệp chiến lược; đẩy nhanh tiến độ các dự án trọng điểm, nâng cao hiệu quả quản trị và sử dụng vốn. Danh mục doanh nghiệp nhà nước mạnh, quy mô lớn, có vai trò dẫn dắt cần được khẩn trương hoàn thiện.

Các tập đoàn, tổng công ty cần công khai nhu cầu mua sắm, tiêu chuẩn kỹ thuật và chương trình phát triển nhà cung ứng trong nước. Kết quả đổi mới công nghệ, phát triển nhà cung ứng nội địa và tiến độ dự án cần được đưa vào tiêu chí đánh giá người đứng đầu.

Đối với khu vực tư nhân, cần bảo đảm bình đẳng trong tiếp cận vốn, đất đai, đầu tư công, mua sắm công và các dự án hạ tầng.

Doanh nghiệp nhỏ và vừa cần được hỗ trợ chuẩn hóa quản trị, kế toán, công nghệ và tiêu chuẩn để mở rộng quy mô, tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị.

Cùng với đó, cần phát triển các mô hình kinh doanh mới như “doanh nghiệp 1 người” để thúc đẩy khởi nghiệp, đồng thời khuyến khích hộ kinh doanh chuyển đổi thành doanh nghiệp.

Đối với khu vực FDI, cần chuyển trọng tâm thu hút từ số lượng sang chất lượng, ưu tiên các lĩnh vực công nghệ cao, nghiên cứu và phát triển, đổi mới sáng tạo, năng lượng sạch, hạ tầng số và công nghiệp hỗ trợ.

Các chính sách ưu đãi đầu tư cần gắn với kết quả chuyển giao công nghệ, đào tạo nhân lực, sử dụng nhà cung ứng Việt Nam, tiết kiệm năng lượng và giảm phát thải.

Về giải pháp thúc đẩy cơ chế liên kết giữa ba khu vực doanh nghiệp, Bộ trưởng cho rằng cần thiết lập cơ chế liên kết và đo lường kết quả giữa doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.

Các ngành có khả năng lan tỏa cao như năng lượng, điện lực, dầu khí, viễn thông, hạ tầng số, logistics, chế biến, chế tạo, công nghiệp hỗ trợ, nông nghiệp công nghệ cao và chuyển đổi xanh cần được lựa chọn để xây dựng chuỗi liên kết.

Trong các chuỗi liên kết này, doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp tư nhân lớn được xác định làm hạt nhân; doanh nghiệp nhỏ và vừa tham gia các công đoạn cung ứng, dịch vụ kỹ thuật, thiết kế, bảo trì và logistics.

Kết quả liên kết cần được đánh giá bằng các chỉ tiêu cụ thể, gồm tỷ lệ mua sắm trong nước, số doanh nghiệp Việt Nam tham gia chuỗi, giá trị hợp đồng cung ứng, tỷ lệ nội địa hóa, số dự án chuyển giao công nghệ và số lao động kỹ thuật được đào tạo.

Link gốc