Quay lại

Khi tiền gửi tiết kiệm vẫn cạnh tranh với cổ phiếu

stockbiz · 14:25:40 18/8/2026 nguồn

neutralcapital_markets

Lãi suất tiền gửi còn cao khiến định giá cổ phiếu rẻ chưa đủ kéo dòng tiền quay lại mạnh

Thay đổi chính

  • P/E thị trường giảm về khoảng 12 lần, thấp hơn trung vị 10 năm.
  • Chênh lệch lợi suất cổ phiếu so với tiền gửi chỉ khoảng 1–2 điểm phần trăm.
  • Lợi nhuận doanh nghiệp niêm yết quý II/2026 tăng mạnh nhưng phân hóa rõ.
  • Chi phí vốn cao tiếp tục gây áp lực lên doanh nghiệp vay nợ nhiều.

Ngành chịu tác động

  • capital marketsCaoDòng tiền vào cổ phiếu bị hạn chế khi lợi suất không vượt trội so với tiền gửi.
  • Ngân hàngTrung bìnhLãi suất huy động cao hỗ trợ giữ tiền gửi nhưng gây áp lực biên lãi ròng.
  • listed corporatesTrung bìnhDoanh nghiệp vay nợ lớn chịu rủi ro chi phí vốn và tái cấp vốn cao.

Tổng kết: Thị trường cổ phiếu có nền định giá hấp dẫn hơn nhưng lợi thế so với tiền gửi vẫn mỏng, nên khó kỳ vọng dòng tiền lan tỏa mạnh. Chiến lược phù hợp là chọn lọc doanh nghiệp có lợi nhuận cốt lõi, dòng tiền và bảng cân đối tốt.

Tóm tắt sinh bởi AI từ stockbiz. Có thể không chính xác — kiểm tra số liệu trong bài gốc.

Toàn văn từ nguồn

Định giá VN-Index đã về vùng thấp, nhưng tiền gửi vẫn tăng khoảng 0,5% mỗi tháng và chênh lệch lợi suất với cổ phiếu chưa đủ lớn để kích hoạt dòng tiền.

[Image: ]

Chênh lệch lợi suất chứng khoán với tiền gửi khoảng 2,35% (Ảnh có hỗ trợ của AI).

Định giá thấp nhưng lợi thế so với tiền gửi còn mỏng

Sau nhịp điều chỉnh, định giá thị trường cổ phiếu đã trở nên hấp dẫn hơn. Báo cáo chiến lược tháng 8/2026 của Công ty Chứng khoán Phú Hưng (PHS) cho biết định giá (P/E) toàn thị trường tại ngày 7/8 ở khoảng 12 lần, thấp hơn trung vị 10 năm. Nếu loại trừ nhóm Vingroup, P/E chỉ còn khoảng 10 lần và tiến sát vùng âm 2 độ lệch chuẩn, mức từng xuất hiện trong những giai đoạn thị trường chịu áp lực mạnh.

Tuy nhiên, định giá thấp chưa đồng nghĩa dòng tiền sẽ lập tức quay lại. Với P/E khoảng 12-12,7 lần, lợi suất thu nhập trên giá cổ phiếu (E/P) tương ứng khoảng 7,9-8,3%/năm. Trong khi đó, lãi suất huy động kỳ hạn 12 tháng tại nhóm ngân hàng quốc doanh vào khoảng 6%/năm; bình quân kỳ hạn 6-12 tháng đạt 6,85% vào tháng 6.

Một số khảo sát tính cả chương trình ưu đãi và lãi suất thỏa thuận cho kết quả cao hơn. Lãi suất huy động bình quân kỳ hạn 12 tháng cuối tháng 6 đạt 8,3% tại nhóm ngân hàng lớn và 8,52% tại nhóm ngân hàng vừa, nhỏ. Mức trên 9% chỉ xuất hiện tại một số ngân hàng hoặc đi kèm điều kiện, không đại diện cho mặt bằng chung.

Như vậy, lợi suất thu nhập của cổ phiếu chỉ cao hơn khoảng 1–2 điểm phần trăm so với mặt bằng tiền gửi phổ biến, thậm chí gần như ngang bằng nếu so với các mức huy động cao. Trong khi tiền gửi mang lại khoản lãi tương đối chắc chắn khi nắm giữ đến đáo hạn, E/P không phải lợi tức nhà đầu tư chắc chắn nhận được; người mua cổ phiếu còn chịu rủi ro biến động giá và chất lượng lợi nhuận.

Theo ông Trần Ngọc Báu, Nhà sáng lập kiêm Tổng Giám đốc WiGroup, định giá rẻ mới là điều kiện cần. Nếu lãi suất tiếp tục duy trì ở mức cao, thị trường sẽ khó bùng nổ khi chưa có yếu tố đủ mạnh để kéo dòng tiền rời khỏi các kênh an toàn.

Lợi nhuận tăng cao nhưng bắt đầu phân hóa

Lực đỡ lớn nhất của thị trường hiện nay đến từ kết quả kinh doanh quý II. Theo ông Nguyễn Thành Trung, CEO, Founder tại FinSuccess, lợi nhuận doanh nghiệp niêm yết quý II/2026 đạt khoảng 194.000 tỷ đồng, tăng 45% so với mức 110.000 tỷ đồng cùng kỳ.

Riêng nhóm Vingroup đóng góp khoảng 44.000 tỷ đồng. Nếu loại trừ nhóm này, lợi nhuận phần còn lại vẫn tăng khoảng 30%. Các khoản thu nhập bất thường không chiếm tỷ trọng quá lớn, cho thấy hoạt động cốt lõi đã cải thiện rõ hơn so với quý I.

Dù vậy, tăng trưởng không trải đều. Lợi nhuận chủ yếu tập trung vào ngân hàng, bất động sản, chứng khoán, điện - năng lượng, bán lẻ và thép. Trong khi các doanh nghiệp đầu ngành tăng trưởng mạnh, nhiều doanh nghiệp thuộc các lĩnh vực thông thường chỉ ghi nhận mức tăng 5-10%. Đây là biểu hiện của mô hình “chữ K”, khi một nhánh phục hồi nhanh nhưng phần còn lại vẫn đối mặt với nhiều khó khăn.

Biên lợi nhuận của nhóm phi tài chính cũng chịu sức ép từ giá đầu vào và lãi suất. Tổng trạng thái tiền mặt ròng của doanh nghiệp niêm yết đang âm khoảng 681.000 tỷ đồng, dù phần lớn mức âm tập trung tại một số tập đoàn lớn. Nếu chi phí vốn tiếp tục neo cao, doanh nghiệp vay nợ nhiều sẽ chịu áp lực lớn hơn về lãi vay và tái cấp vốn.

Đối với ngân hàng, lợi nhuận quý II tăng tích cực nhưng chất lượng tăng trưởng cần được xem xét kỹ. Hoạt động tín dụng cốt lõi tăng khoảng 15–16%, thấp hơn đáng kể mức tăng của thu nhập dịch vụ. Trong khi đó, biên lãi ròng thu hẹp, chi phí huy động tăng, nợ xấu có dấu hiệu đi lên và tỷ lệ bao phủ nợ xấu giảm tại một số ngân hàng. Từ quý IV, nền so sánh cao hơn cũng có thể khiến tốc độ tăng lợi nhuận toàn thị trường chậm lại.

Trong bối cảnh đó, chiến lược phù hợp không phải mua cổ phiếu trên diện rộng mà lựa chọn theo sức khỏe từng doanh nghiệp. Theo ông Trung, nên ưu tiên doanh nghiệp có định giá thấp so với lịch sử, lợi nhuận cốt lõi duy trì tăng trưởng 2 con số, dòng tiền kinh doanh dương, lượng tiền mặt tốt và mức vay nợ hợp lý.

Ở cấp độ ngành, nhóm ngân hàng vẫn có thể giữ vai trò dẫn dắt, nhưng cần chọn các ngân hàng kiểm soát tốt chi phí vốn, nợ xấu và tỷ lệ bao phủ. Chứng khoán có thể hưởng lợi từ kỳ vọng nâng hạng và sự phục hồi thanh khoản, song cần lưu ý chất lượng lợi nhuận từ cho vay ký quỹ và tự doanh. Bán lẻ, thực phẩm, điện - tiện ích phù hợp với chiến lược tìm kiếm tăng trưởng tương đối ổn định; logistics và bảo hiểm có thể đóng vai trò phòng thủ trong các nhịp biến động.

Link gốc