Vietcombank tiếp tục giữ ngôi đầu về lợi nhuận, nhưng VPBank đã vươn sát nhóm Big4, trong khi BVBank, ABBank ghi nhận tốc độ tăng bằng lần. Trái chiều, lợi nhuận của 5 ngân hàng giảm, có nơi mất hơn một nửa so với cùng kỳ.
[Image: ]
Lợi nhuận của đa số ngân hàng đều tăng so với cùng kỳ năm trước. Ảnh: MSB
Big4 giữ ngôi đầu, VPBank bám sát nhóm quốc doanh
Bốn ngân hàng có vốn nhà nước tiếp tục chiếm ưu thế lớn về quy mô lợi nhuận khi cùng nằm trong nhóm 6 ngân hàng dẫn đầu. Tổng lợi nhuận trước thuế của Vietcombank, VietinBank, BIDV và Agribank đạt gần 92.830 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng đáng kể trong tổng lợi nhuận của 30 ngân hàng được thống kê.
Vietcombank duy trì vị trí quán quân với 29.222 tỷ đồng, tăng 33,5% so với cùng kỳ. Khoảng cách giữa Vietcombank và VietinBank đứng thứ hai còn hơn 3.300 tỷ đồng, dù VietinBank có tốc độ tăng trưởng cao hơn, đạt 36,8% so với cùng kỳ năm trước.
Kết quả của hai ngân hàng dẫn đầu cho thấy tăng trưởng không chỉ dựa vào tín dụng. Tại Vietcombank, thu nhập lãi thuần quý II tăng 35,2%, hoạt động ngoại hối tăng gần 32%, trong khi thu nhập từ các hoạt động khác tăng hơn 3 lần. VietinBank cũng ghi nhận thu nhập lãi thuần tăng trên 28%, thu nhập dịch vụ tăng hơn 35% và lợi nhuận từ chứng khoán đầu tư tăng mạnh.
MB đứng thứ ba với 20.188 tỷ đồng, tăng 27,1%, vượt BIDV và tiếp tục là ngân hàng ngoài quốc doanh có lợi nhuận cao nhất. Khoảng cách giữa MB và BIDV đạt hơn 1.280 tỷ đồng, dù BIDV đang sở hữu tổng tài sản lớn nhất hệ thống.
Nếu xét về quy mô hoạt động, BIDV tiếp tục giữ vị trí dẫn đầu với tổng tài sản 3,44 triệu tỷ đồng, cao hơn đáng kể so với MB. Tuy nhiên, lợi nhuận trước thuế của BIDV đạt 18.905 tỷ đồng, tăng 17,9%, xếp thứ tư.
Đáng chú ý nhất trong nhóm dẫn đầu là sự vươn lên của VPBank. Lợi nhuận trước thuế hợp nhất đạt 18.900 tỷ đồng, chỉ thấp hơn BIDV 5 tỷ đồng và cao hơn Agribank 79 tỷ đồng. Với mức tăng 68,3%, VPBank là ngân hàng có tốc độ tăng nhanh nhất trong nhóm 10 đơn vị lợi nhuận cao nhất. Tổng tài sản hợp nhất của ngân hàng vượt 1,5 triệu tỷ đồng, tăng 19,2%, trong khi tín dụng riêng ngân hàng mẹ tăng 24,6%. Tốc độ mở rộng tài sản và tín dụng cao hơn đáng kể so với phần lớn ngân hàng lớn đã tạo nền tảng cho mức tăng lợi nhuận gần 70%.
Agribank đứng thứ 6 với 18.821 tỷ đồng, tăng 42,2%. So với BIDV, lợi nhuận Agribank chỉ thấp hơn 84 tỷ đồng, dù tổng tài sản nhỏ hơn khoảng 640.000 tỷ đồng. Thu nhập lãi thuần, ngoại hối và dịch vụ đều tăng, giúp Agribank đạt tốc độ tăng trưởng cao nhất trong nhóm Big4.
Techcombank xếp ngay sau với 18.500 tỷ đồng, tăng 22,2%. Khoảng cách giữa Techcombank và 3 ngân hàng đứng phía trên gồm BIDV, VPBank, Agribank không lớn, chỉ từ hơn 300 tỷ đồng đến khoảng 400 tỷ đồng. Ngân hàng này còn lập kỷ lục lợi nhuận theo quý khi đạt 9.670 tỷ đồng trong quý II.
Điểm khác biệt của Techcombank nằm ở nguồn thu dịch vụ. Trong 6 tháng, thu nhập dịch vụ tăng 37,6%, đạt 7.600 tỷ đồng; riêng thu từ thư tín dụng, tiền mặt và thanh toán tăng hơn 152%. Đây là một trong số ít ngân hàng lớn có nguồn thu ngoài lãi tạo đóng góp rõ rệt bên cạnh hoạt động tín dụng.
[Image: ]
Nguồn: BCTC các ngân hàng. Thiết kế có sự hỗ trợ của AI.
Ngân hàng nhỏ tăng bằng lần
Nếu nhóm ngân hàng lớn nổi bật ở quy mô lợi nhuận, nhóm ngân hàng vừa và nhỏ lại thu hút sự chú ý về tốc độ tăng trưởng.
BVBank dẫn đầu với lợi nhuận trước thuế 547 tỷ đồng, tăng 485,4%, tương đương gần 5,9 lần cùng kỳ. Riêng quý II, lợi nhuận đạt 332 tỷ đồng, gấp khoảng 25 lần cùng kỳ, giúp ngân hàng hoàn thành 78% kế hoạch năm chỉ sau 6 tháng.
Tuy nhiên, mức tăng gần 5 lần của BVBank cần được nhìn trong tương quan với nền lợi nhuận thấp của năm trước, khi ngân hàng chỉ đạt 93 tỷ đồng trong nửa đầu năm 2025. Dù tốc độ tăng cao nhất hệ thống, lợi nhuận của BVBank vẫn xếp thứ 27 trong số 30 ngân hàng.
ABBank là trường hợp tiếp theo có lợi nhuận tăng bằng lần. Ngân hàng đạt 3.016 tỷ đồng, tăng 109,2%. So với cùng kỳ, ABBank tăng thêm hơn 1.570 tỷ đồng lợi nhuận, mức tăng tuyệt đối thuộc nhóm cao trong khối ngân hàng vừa.
Nhóm ngân hàng có mức tăng trưởng cao trên 50% còn có Vietbank đạt 944 tỷ đồng, tăng 83,4%; VPBank tăng 68,3%; PGBank đạt 440 tỷ đồng, tăng 65,7%; NCB đạt 727 tỷ đồng, tăng 57%.
Đặc biệt, GPBank đạt khoảng 730 tỷ đồng trong nửa đầu năm, tăng hơn 780% theo công bố của ngân hàng. Tuy nhiên, tương tự BVBank, tốc độ tăng cao của GPBank diễn ra trên nền lợi nhuận thấp.
Ở nhóm tăng từ 20% đến dưới 50%, ngoài các ngân hàng lớn như VietinBank, Vietcombank, Agribank, HDBank, MB và Techcombank, còn có OCB, KienlongBank và Nam A Bank.
OCB đạt 2.470 tỷ đồng, tăng 30,5%; KienlongBank đạt 1.176 tỷ đồng, tăng 27,7%; Nam A Bank đạt 3.159 tỷ đồng, tăng 25,3%. Trong đó, OCB có tổng thu nhập thuần tăng 20,6% và dư nợ tín dụng tăng 11%, cao hơn mức tăng trưởng tín dụng bình quân toàn ngành trong cùng kỳ. KienlongBank đồng thời mở rộng cả tài sản, cho vay và huy động, trong khi vẫn kiểm soát tỷ lệ nợ xấu ở mức 1,44%.
MSB, VIB, SHB và Bac A Bank thuộc nhóm tăng một chữ số. MSB đạt 3.423 tỷ đồng, tăng 7,9%; VIB đạt 5.180 tỷ đồng, tăng 3,3%; SHB và Bac A Bank cùng tăng 1,6%, lần lượt đạt 9.092 tỷ đồng và 682 tỷ đồng. ACB chỉ tăng 0,1%, còn TPBank không thay đổi so với cùng kỳ.
Ở chiều ngược lại, 5 ngân hàng ghi nhận lợi nhuận giảm gồm LPBank, Sacombank, SeABank, Eximbank và Saigonbank.
Saigonbank giảm mạnh nhất, mất 72,6% lợi nhuận, chỉ còn 48 tỷ đồng. Đây cũng là ngân hàng duy nhất trong nhóm ghi nhận lỗ trước thuế trong quý II, với mức lỗ 40 tỷ đồng. Nguyên nhân chính đến từ sự suy giảm của nhiều nguồn thu, trong khi chi phí dự phòng tăng hơn 62%.
SeABank và Eximbank cùng giảm hơn một nửa. SeABank đạt 2.625 tỷ đồng, giảm 54,6%; Eximbank đạt 678 tỷ đồng, giảm 54,5%. Khoảng cách giữa hai ngân hàng về tỷ lệ giảm chỉ 0,1 điểm phần trăm, nhưng lợi nhuận tuyệt đối của SeABank vẫn cao gấp gần 4 lần Eximbank.
Sacombank giảm 43,6%, còn 4.136 tỷ đồng, nhưng vẫn đứng thứ 14 về lợi nhuận. LPBank giảm nhẹ nhất trong nhóm, ở mức 3,1%, xuống còn 5.973 tỷ đồng. Tại LPBank, lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh vẫn tăng hơn 10%, song chi phí dự phòng tăng gấp 2,3 lần đã kéo lợi nhuận trước thuế đi xuống.
Có thể thấy, thứ hạng lợi nhuận nửa đầu năm 2026 vẫn nghiêng về các ngân hàng lớn, nhưng tốc độ tăng trưởng cao nhất lại thuộc về nhóm quy mô vừa và nhỏ. Hơn nữa, tăng trưởng tín dụng không phải yếu tố duy nhất quyết định lợi nhuận. Ngân hàng có khả năng cải thiện biên lãi, mở rộng dịch vụ, ngoại hối và kiểm soát dự phòng tốt ghi nhận kết quả tích cực hơn. Ngược lại, chi phí rủi ro tăng nhanh có thể khiến lợi nhuận suy giảm ngay cả khi thu nhập kinh doanh cốt lõi vẫn tăng.
Hương Dịu