Lợi nhuận quý II/2026 tăng mạnh tạo nền tảng cho cổ phiếu ngân hàng, song nợ xấu đi lên và bộ đệm dự phòng thu hẹp khiến triển vọng từng mã ngày càng phân hóa.
[Image: ]
NIM của các ngân hàng. Nguồn:
Lợi nhuận củng cố sức hút cổ phiếu ngân hàng
Cổ phiếu ngân hàng tiếp tục nhận được sự quan tâm khi kết quả kinh doanh quý II/2026 cho thấy đà tăng trưởng tích cực. Theo SSI Research, 13 ngân hàng trong phạm vi nghiên cứu ghi nhận tổng lợi nhuận trước thuế 95.700 tỷ đồng, tăng 27,6% so với cùng kỳ và 20,3% so với quý trước. Lũy kế 6 tháng, nhóm này đã hoàn thành khoảng 49,4% dự báo lợi nhuận cả năm.
Động lực tăng trưởng đến từ tín dụng mở rộng, biên lãi ròng phục hồi và nguồn thu ngoài lãi cải thiện. Dư nợ tín dụng tăng 5,3% trong quý II, đưa mức tăng từ đầu năm lên 9,1%. Biên lãi ròng (NIM) toàn ngành tăng từ 3,04% lên 3,22%, trong khi thu nhập phí tăng 54,3% so với cùng kỳ, đạt 22.500 tỷ đồng.
Ở nhóm ngân hàng thương mại nhà nước, VCB nổi bật với lợi nhuận trước thuế quý II đạt 17.400 tỷ đồng, tăng 58% so với cùng kỳ. Bên cạnh tốc độ tăng lợi nhuận cao, Vietcombank duy trì tỷ lệ nợ xấu ở mức 0,61% và tỷ lệ bao phủ nợ xấu lên tới 279%, cao nhất trong nhóm khảo sát.
CTG ghi nhận lợi nhuận trước thuế 14.700 tỷ đồng, tăng 22%. Tỷ lệ nợ xấu ở mức 1,2%, còn tỷ lệ bao phủ đạt 134%. Kết quả vượt kỳ vọng, NIM phục hồi và dư địa giải ngân cho doanh nghiệp lớn là những yếu tố hỗ trợ cổ phiếu CTG. Tuy nhiên, nợ xấu tăng 21,8% so với quý trước cho thấy chất lượng tài sản vẫn cần được theo dõi.
BID đạt lợi nhuận 10.300 tỷ đồng, tăng 20%. Dù vậy, tỷ lệ nợ xấu của BID ở mức 1,83%, cao hơn VCB và CTG, trong khi tỷ lệ bao phủ chỉ đạt 76%. Cổ phiếu BID có thể hưởng lợi từ triển vọng tín dụng hạ tầng và đầu tư công, nhưng áp lực dự phòng là biến số có khả năng ảnh hưởng đến tốc độ tăng lợi nhuận.
Trong nhóm ngân hàng thương mại cổ phần, MBB cho thấy sự cân bằng tương đối giữa tăng trưởng và hiệu quả hoạt động. Lợi nhuận trước thuế quý II đạt 10.600 tỷ đồng, tăng 41%; tín dụng tăng 9,6% so với quý trước. NIM đạt 4,2% và tỷ lệ tiền gửi không kỳ hạn (CASA) đạt 35%, thuộc nhóm cao nhất ngành.
Nền tảng tiền gửi chi phí thấp cùng khả năng mở rộng tín dụng giúp MBB có dư địa duy trì lợi nhuận. Tuy nhiên, tỷ lệ nợ xấu đã tăng lên 1,45%, còn tỷ lệ bao phủ giảm về 94%, đòi hỏi nhà đầu tư theo dõi thêm tốc độ hình thành nợ xấu trong nửa cuối năm.
TCB cũng sở hữu nhiều chỉ tiêu thuận lợi với lợi nhuận tăng 22%, NIM đạt 3,7%, CASA ở mức 35% và tỷ lệ bao phủ nợ xấu đạt 126%. Tín dụng tăng khoảng 12% so với quý trước, chủ yếu nhờ cho vay doanh nghiệp, bất động sản và dịch vụ tài chính.
Cổ phiếu TCB có thể hưởng lợi khi thị trường bất động sản, trái phiếu và chứng khoán phục hồi. Dù vậy, mức độ tập trung tín dụng vào các lĩnh vực nhạy cảm với chu kỳ kinh tế vẫn là yếu tố cần cân nhắc.
Tăng trưởng cao đi kèm rủi ro tài sản
VPB và HDB là hai trường hợp nổi bật về tốc độ tăng lợi nhuận. VPBank đạt lợi nhuận trước thuế 11.000 tỷ đồng, tăng 76%, cao nhất trong nhóm nghiên cứu. NIM đạt 5,2%, phản ánh khả năng sinh lời tốt từ hoạt động tín dụng.
Tuy nhiên, tỷ lệ nợ xấu của VPBank ở mức 3,28%, tỷ lệ bao phủ đạt 56%, thấp hơn đáng kể so với nhiều ngân hàng cùng nhóm. Lợi nhuận tăng nhanh có thể tạo động lực cho cổ phiếu VPB, song triển vọng còn phụ thuộc vào khả năng kiểm soát nợ xấu tại ngân hàng mẹ và mảng tài chính tiêu dùng.
[Image: ]
Tỷ lệ CASA của các ngân hàng. Nguồn:
HDBank ghi nhận lợi nhuận tăng 51%, tín dụng tăng khoảng 11-12% so với quý trước và NIM đạt 4,2%. Đây là những yếu tố hỗ trợ kỳ vọng tăng trưởng đối với cổ phiếu HDB. Tuy nhiên, nợ xấu tăng 17,6% so với quý trước, đưa tỷ lệ nợ xấu lên 2,79%. Tỷ lệ bao phủ giảm còn 50%, cho thấy bộ đệm dự phòng tương đối mỏng.
ACB có chất lượng tài sản tương đối ổn định với tỷ lệ nợ xấu 1,03% và bao phủ nợ xấu 105%. Dù vậy, lợi nhuận quý II giảm 12% so với cùng kỳ. Vì thế, cổ phiếu ACB có thể phù hợp hơn với góc nhìn thận trọng, dựa trên nền tảng quản trị rủi ro, thay vì kỳ vọng tăng trưởng lợi nhuận đột biến.
Ngược lại, STB đối mặt nhiều thách thức khi lợi nhuận giảm 44%, tỷ lệ nợ xấu tăng lên 7,54% và tỷ lệ bao phủ chỉ còn 57%. Nợ nhóm 2 tăng 2,8 lần so với quý trước, trong khi chi phí dự phòng tăng 152%. Diễn biến của cổ phiếu STB vì vậy phụ thuộc lớn vào tiến độ xử lý tài sản tồn đọng và khả năng kiểm soát các khoản nợ phát sinh mới.
Trên bình diện toàn ngành, tỷ lệ nợ xấu tăng từ 1,88% lên 1,97% trong quý II, còn nợ nhóm 2 tăng 17,5% so với quý trước. Tỷ lệ bao phủ nợ xấu giảm từ 86% xuống khoảng 83%, cho thấy lợi nhuận tích cực chưa phản ánh đầy đủ sức ép chất lượng tài sản.
Triển vọng cổ phiếu ngân hàng trong nửa cuối năm 2026 vì vậy vẫn tích cực nhưng khó hình thành một xu hướng đồng đều. Nhóm có bộ đệm dự phòng lớn và chất lượng tài sản tốt như VCB, CTG có lợi thế phòng thủ; MBB, TCB nổi bật nhờ khả năng tăng trưởng và nguồn vốn chi phí thấp; VPB, HDB đem lại kỳ vọng lợi nhuận cao nhưng đi kèm rủi ro tài sản lớn hơn.