Tổng công ty cổ phần Khoan và Dịch vụ Khoan Dầu Khí (PV Drilling, mã: PVD) công bố văn bản giải trình Báo cáo tài chính Hợp nhất và Công ty mẹ quý 2 năm 2026, gửi Sở Giao dịch Chứng khoán TP. Hồ Chí Minh (HOSE). Văn bản lập ngày 30/07/2026 tại TP. Hồ Chí Minh; ngày công bố theo dữ liệu là 31/07/2026. Người thực hiện công bố thông tin là ông Đỗ Danh Rang, Phó Tổng giám đốc.
Nội dung công bố thuộc loại thông tin định kỳ, kèm Báo cáo tài chính Hợp nhất và Công ty mẹ quý 2/2026. Các số liệu trong giải trình được trình bày theo đơn vị tỷ đồng. Doanh nghiệp lưu ý “tổng doanh thu” bao gồm doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ, doanh thu hoạt động tài chính, lợi nhuận từ công ty liên doanh và thu nhập khác.
Ở cấp Công ty mẹ, tổng doanh thu quý 2/2026 đạt 2.285,9 tỷ đồng, tăng 35,3% so với mức 1.689,8 tỷ đồng cùng kỳ. Lợi nhuận sau thuế Công ty mẹ đạt 182,3 tỷ đồng, tăng 60,5% so với 113,6 tỷ đồng cùng kỳ.
Ở cấp hợp nhất, tổng doanh thu quý 2/2026 đạt 3.089,0 tỷ đồng, tăng 21,1% so với 2.549,9 tỷ đồng cùng kỳ. Tuy nhiên, lợi nhuận sau thuế hợp nhất đạt 177,9 tỷ đồng, giảm 28,8% so với 249,8 tỷ đồng cùng kỳ. Lợi nhuận sau thuế thuộc cổ đông Công ty mẹ đạt 162,6 tỷ đồng, giảm 32,1% so với 239,5 tỷ đồng.
Theo giải trình của PVD, doanh thu hợp nhất tăng chủ yếu nhờ số lượng giàn khoan tự nâng sở hữu đưa vào hoạt động tăng, bình quân 5,91 giàn trong quý 2/2026 so với 3,67 giàn trong quý 2/2025. Bên cạnh đó, số lượng giàn khoan thuê đưa vào hoạt động cũng tăng, bình quân 2,59 giàn so với 1,25 giàn cùng kỳ. Kết quả hợp nhất còn được hỗ trợ bởi việc tăng cổ tức, lợi nhuận được chia từ liên doanh/công ty con.
Ở chiều ngược lại, PVD cho biết quý 2/2025 có phát sinh khoản thu nhập bảo hiểm liên quan đến giàn PV DRILLING VI, trong khi quý 2/2026 không còn khoản thu nhập này. Ngoài ra, doanh thu các mảng dịch vụ liên quan đến khoan giảm do khối lượng công việc giảm.
Về lợi nhuận hợp nhất, mức giảm 28,8% được doanh nghiệp lý giải chủ yếu do chi phí đầu vào tăng dưới ảnh hưởng của xung đột địa chính trị Trung Đông, không còn khoản thu nhập bảo hiểm liên quan đến giàn PV DRILLING VI, và chi phí lãi vay tăng do các khoản vay phục vụ đầu tư giàn khoan PV DRILLING VIII và PV DRILLING IX. Các yếu tố bù trừ gồm lợi nhuận từ mảng dịch vụ khoan tăng, cùng cổ tức và lợi nhuận được chia từ các liên doanh/công ty con tăng.
Đối với Báo cáo Công ty mẹ, lợi nhuận tăng chủ yếu nhờ lợi nhuận từ dịch vụ khoan và cổ tức, lợi nhuận được chia. Tuy vậy, kết quả này cũng bị bù trừ một phần bởi chi phí lãi vay tăng liên quan đến PV DRILLING VIII và PV DRILLING IX.